Làng Quang Điểm có tự bao giờ ?

Views: 247
Làng Quang Điểm có tự bao giờ ?




BÀI GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC LỊCH SỬA LÀNG QUANG ĐIỂM

Làng Quang Điểm Thuộc ,xã Yên Phương , huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định

Tư liệu : Ông Đinh Văn Đãm

Chủ Biên : Ông Đinh Quang Lương

Kịch bản : Ông Đinh Văn Thăng  & Tập thể ban văn hóa Thôn Quang Điểm thực hiện.

Viết xong ngày 16.06.2013

Ghi Chú : Ngày 19.05.1980 là ngày dịch bản Hán Văn Cổ

Câu Chuyện Làng Ta !

Chúng ta cũng biết ” Chùa là nơi thờ phật, Đình là nơi thờ thánh, Phủ là nơi thờ mẫu”.

Quang Điểm Thôn Chúng Ta có từ bao giờ…

Mà cho đến bây giờ : Chùa, Đình, Phủ là chốn tâm linh bậc nhất của làng.

Cứ : Tuần, Tiết, Lễ, giỗ Tết hàng năm, Quanh năm ngào ngạt Hương, Trầm của các đệ tử, cùng người dân các thế hệ, trong và ngoài làng thành tâm dâng kính.

Phải chăng ” Đó là niềm tin ở cõi tâm linh, của mỗi người dân , trải qua bao thế hệ cùng lòng biết ơn, niềm tự hào, lòng hiếu kính, tôn kính . Đối với Đức Phật, Đức Thánh và Đức Mẫu đã hằng Hiển Linh, Hiện Hữu. Phù hộ độ trì cho hết thảy mọi nhà mọi người được an làng, may mắn, sống và hành sử luôn luôn hướng tới điều trí sáng, tâm trong“.

Và cũng vì thế làng ta : Chùa , Đình , Phủ còn là nơi gắn kết cộng đồng, không chỉ với những người con ở tại quê, mà còn với tất cả mọi người con đang ở xa quê . vẫn hằng thiết tha, ngưỡng thưởng, bởi chốn tâm linh này là kết tinh của Linh Thiêng Nguồn Cuội : Dòng Tộc, Tổ Tiên, Ông Bà.

Mỗi khi thành tam nghĩ tới…

Mỗi khi thắp nén hương thơm

Chắp tay cúi đầu dâng lễ.

Tâm trí ta, thảnh thơi, tĩnh lặng..

Lòng ta như được bình an, mầm thiện trong ta tách bạch, nảy mần, vươn xanh, kết nụ, đơm hoa…

Càng kính tâm, chúng ta càng biết ơn, càng vững tin với niềm tin bất diệt thì : Tình yêu con người, tình quý yêu làng xóm càng thêm đằm thắm dạt dào.

Tình yêu và tình nghĩa từ trong gia đình đến dòng họ, xòm làng càng tha thiết hơn, gắn bó keo sơn, trong đùm bọc xẻ chia.

Thời gian năm tháng dần trôi, nước chảy đá mòn, dòng sông có thể chuyển dời.

Nhưng lòng biết ơn hiếu kính và niềm tin của các thế hệ con dân làng ta không hề suy giảm, không hề đổi thay.

Nhưng cũng do thời gian, trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc : Đình, Chùa, Phủ của làng đã xuống cấp và cần phải tôn tạo xây dựng lại.

Đây cũng là Ý Nguyện, Nguyện Ước tâm nguyện mong mỏi thiết tha của mọi người dân. Già, Trẻ, Gái, Trai, Đang ở tại quê cũng như ở xa quê“.

Ý nguyện ấy , ước nguyện ấy, mong mỏi ấy gặp nhau… Mọi người mọi nhà đồng lòng hưởng ứng.

Đến nay việc tôn tạo ngôi đình thờ Thánh, trong quần thể : Chùa , Đình, Phủ của làng ta cơ bản là hoàn thành.

Theo lệ thường !

Hôm nay ngày 23 Tháng 6 . Quý Tỵ (2013)

Làng ta có nghi thức Rước Thánh xuất phát ( Từ Đình Làng Quang Điểm và lên đón ngài tại Khu Di Tích Đền Thượng, Hay còn gọi Đền Mả Thờ ).

Đi trước dòng người là đoàn nghi lễ, kính cẩn nghiêm trang : Cờ, Lọng, Nghi Trượng, Kiệu. Đang xuôi đền hạ : Thỉ rước Thánh Câu Mang Đại Vương , Thượng Đẳng Thần, cùng ngược lên Đình Chung Công Sở.

Rồi ngược lên Đền Thượng, thỉnh rước Đức Thánh Quý Minh Đại Vương, Thượng Đẳng Thần. Về ngự tại nơi Đình Chung Cộng Đồng.

Với niềm hân hoan được nhân lên gấp bội, bởi việc tôn tạo. Đình đã được hoàn thành và cũng kịp ngày mai (Hai tư, tháng sáu việc làng giỗ Thánh).

Sự Tích Về Làng Quang Điểm

Tựa vào truyền ngôn của các bậc thượng lão, thượng thượng lão trong làng, qua bao thế hệ và. Những cứ liệu trong sử sách.

Để men ngược thời gian, ngược thời gian… Xin cùng tìm hiểu Làng Quang Điểm ta hôm nay có tự bao giờ ?

Theo Địa Chí Nam Định, Cư dân sinh sống tại Ý Yên, Nam Định. Trong đó có làng ta, đến nay phải ít nhất cũng trên nghìn năm tuổi!

Theo truyền ngôn để lại :

“Thời xa xưa ấy

Nước trắng mênh mông

Sú, vẹt, sậy, năm

Nổi lên như đảo

Con người tìm đến

kiếm kế sinh nhai

Tần tảo lần hồi

Đặt tên Làng Trắm”.

Như thế Làng Quang Điểm ta hôm nay thời đó có tên Làng Trắm.

“Phía đông bắc làng có rừng Mả Thờ

Phía tây bắc làng có núi Cửa Diệc

Giáp gieo phía tây là Sông Đại Hà (Sông Đáy)

Trước mặt phía nam là Dòng Sông Thiên Phái, với bao huyền thoại nên thơ.

Và xa Xa phía đông Dòng Sông Thiên Phái trải dài uốn lượn quanh chân các ngọn núi : Mai Độ, Ngô Xá, Phương Nhi…”.

Mùa lũ lớn , Làng ta như một ốc đảo xanh có hình dáng đẹp như một con Trắm lớn. Thanh thản ung dung, nhô mình lên tắm nắng trong biển nước , dập dồn!.

Làng ta có từ thời đó…!

Đất ở trong làng đã được bồi đắp trải qua hàng nghìn năm, như những thế đất đẹp trong làng như : Gò, Đầm, Ao, Giếng…. Nhiều thế đất vẫn còn nguyên vẹn cho đến ngày nay.

Đó là : Làng ta có chín giếng ngọc, chín huỳnh sà, chín mươi chín ao lớn…

Nghê sinh nhai cơ bản của Làng ta từ đó và tiếp theo là đánh bắt cá, tôm, trồng lúa nước, cùng với hai nghề nổi tiếng truyền đời có nhiều thợ giỏi : là nghề Mộcnghề Nề.

Người dân Làng ta: Hiền lành, đôn hậu, chăm chỉ, siêng nằng với đôi bàn tay khéo léo, khối óc thông minh, sáng tạo.

Bao quanh làng ta có những thửa ruộng, những cánh đồng, đời tiếp đời khai phá, bồi đắp.

Mà tên gọi của những thửa ruộng, những cánh đồng còn lưu đến ngày nay :

Vườn Dong – Đồng Mây

Bờ Đông – Đồng gián

Cổ Đán – Mả Tàng

Chân Tràng – Cờ Quạt

Mô Tống – Mô Dói

Mắt Rồng – Vườn Nở

Đa Quả – Mả Thờ – Nội Dĩ…

Tên gọi những sứ đồng, người ở quê và những người con đi xa quê không bao giờ quên được.

Bởi mỗi khi nhắc đến là gợi nhớ đến biết bao mồ hôi, công sức, trải qua bao gian khó , nhọc nhằn của bao thế hệ ông cha ta đã khai khẩn , bồi đắp.

Ở những hình ảnh biết mấy thân thương, của người dân làng ta trải qua bao thế hệ : ” Khom lưng cõng nắng ngoài đồng, gom khoai nhặt lúa…Cấy cầy sớm trưa!”.

Trên những vùng đất gập ghềnh thấp cao Ô trũng ấy : ” Chớm mưa là úng, Chớm nắng là hạn”.

Tạo ra được hạt lúa, củ khoai nuôi sống biết bao đời, bao thế hệ người dân làng ta.

Thời nào cũng thế!

Thời nào cũng vậy!

Những cư dân tại làng và những người con xa quê.

” Thận chí cả gia đình – nhiều gia đình xa quê, Gánh theo tên đất , tền làng”. Nhưng vẫn truyền đời gắn bó keo sơn, cùng mong mỏi, cùng thành tâm, gắng sức vì việc chung.

Người góp của, góp công cho sự phát triển toàn diện của cộng đồng.

Thiết tha gắn bó với nguồn cuội, những người con xa quê và những gia đình ở xa quê , đã có những phần đóng góp ủng hộ tao lớn cho sự phát triển hướng tới thịnh vượng, văn hóa, văn minh của làng.

Mỗi dịp đi về hẳn sẽ rất vui và không khỏi ngỡ ngàng trước sự đội thay, phát triển hàng ngày của quê hương, bản quán.

Những : Vườn Dong, Cổ Đán, Đồng Gián khi xưa, nay là những trang trại vừa và nhỏ, Từng đàn từng đàn vịt lội… Cá bơi, soi bóng những vườn cây xum xuê trĩ quả.

Và đây : Những cánh đồng mẫu bốn!

ruộng mật bờ xôi là những biển lúa trĩu hạt, gối vụ, sen canh. Mùa tiếp mùa lạc, đậu, khoai, ngô tươi tốt…!

Từ làng Trắm xưa đến nay là Làng Quang Điểm, suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử ấy, tên làng đã đôi lần đổi thay : Dựa vào lịch sử, sách vở và dựa vào truyền miệng  . Năm 1457, Niên hiệu Diên Ninh thứ tư, Đức vua Lê Nhân Tông ngự thuyền rồng xuôi sông đấy, dừng tại Đoan Vĩ.

Nơi thuyền dừng lại mang tên : Bến Vua – Đoan Vĩ

Theo tín ngưỡng chung của người việt nam, cư dân Làng Trắm thủa ấy đã chọn hai vị Nhân ThầnThiên Thần để lập thờ cúng.

Vị Nhân ThầnThần Quý Minh : Thần là một vị tướng có công phò tá Hùng Duệ Vương đánh tan giặc giữ. Ngài đã từng qua vùng địa danh Làng Trắm sau này , ngài đến địa danh Mả Thờ, Mả Dĩ. Dừng ngựa , dùng chân tạo giếng, lấy nước ngọt cho ngựa uống. Giếng nước ấy còn lưu lại đến ngày nay, mà dân làng đã bước đầu tôn tạo lại.

Cũng tại khu rừng này ngài hóa, theo truyền thuyết đó dân lập đền thờ ngài và gọi là Đền Thượng.

“Đền phải để lộ thiên

Quang cảnh phía trên

Đa, xanh , xưa, mát

Nam đông để thoáng

Cây cối không trồng

Trước đây là rừng

Sau này canh tác”.

Đất rất linh thiêng, nên hàng năm Chúa Sơn Lâm thường vẫn về chầu…

Vị Thiên ThầnThần Cao Mang, Thần chủ về Sông, Hồ, Biển (Cùng thời với vua Hùng Duệ Vương – Hùng Vương Thứ 18).

chẳng những phù hộ cho nước lặng, sóng yên che chở cho dân làng khi hồng thủy chướng giật, mà còn thường hiển linh, phù trợ cho các triều đại đánh tan quân giặc ngoại xâm.

Các bậc tiền nhân của làng đã chọn tiếp vị trí phía Tây Nam Làng, một thế đất đẹp và cao dầy nhất.

Sự Tích Làng Thái Lão

Dịp ấy các vị bô lão trong Làng Trắm đầu râu tóc bạc, quắc thước tinh anh đến ra bái chào. Lòng vua mừng lắm!

Bèn hỏi tên làng là gì ?

Người vốn chữ nghĩa, quý trọng hiền nhân. Vua truyền rằng ” Hẳn đây là nơi đất lành mới có những người trường thọ mà vẫn mạnh khỏe tinh anh đến vậy ?”.

Liền đặt tên chữ cho Làng là Làng Thái lão !

Với dụng ý vừa khen ngợi vừa trân trọng.

Làng ta thủa ấy : Vào mùa nước lớn, mỗi khi đêm xuống, việc chạ việc làng anh đuốc, ánh đèn lung linh tỏa sáng một vùng giữa mênh mông trồi nước.

Ngỡ những điểm sáng sao xa… Năm tháng dần trôi không hiểu sao các bậc thượng lão cao niên cứ dần một thưa vắng.

Làng ta trộm nghĩ tên làng hay nhưng sai, nên đổi tên thành Làng Ba Điểm, sau lại đổi thành Làng Quang Điểm, Tổng Phú KhêHuyện Ý Yên.

Theo truyền ngôn , phủ thờ mẫu lập các đây cả trăm năm, trước cửa mẫu có đôi câu đối Vi Diệu.

” Từ Tâm Tố Điểm Kinh Giang Thủy – Thánh Đức Huy Quang, Bán Nguyệt Hồ”.

Hẳn tên Làng Quang Điểm phải có từ trước đó nên hai chữ trung tâm trong hai vế đối đặt nơi cửa phủ linh thiêng, ngời sáng tên Làng.

Để lập nên đền hạ để phụng thờ ngài. và sau đó bên kế bên làng dựng tiếp ngôi phủ Thờ Đức Thánh Mẫu.

Gần liền đền hại giáp gieo phía tây nam làng, dựng Chùa Thờ PhậtDựng Đình. Kế tiếp đền Thờ Thần, Thánh Cộng Đồng.

Theo dấu tích còn để lại , Đình làng ta ngày xưa to đẹp lắm, cột lim cao chín thước, giường kẻ, trạm trổ rất công phu, được trùng tu khánh thành vào thời Minh Mạng năm 1825.

Trước cửa đình và trên đường xuống Đền Hạ là những hàng cây xum xê tảo bóng mát. Hiện giờ vẫn còn hai cây đa cổ thụ, chứng tích cho sức sống phi thường trải qua mấy trăm năm.

“Mấy trăm năm gội gió sương

Rễ dài buông xuống bên sườn đỡ cây

Khí trời nuôi dưỡng thân gày

Nghèo trong hư ảo vẫn say cõi đời

Vươn cành chiếm một khoảng trời

Xanh rờn tán lá tuyệt vời sức xuân

Đi xa rồi lại về gần

Buồn vui chia sẻ nghĩa nhân, tình người

Chứng minh lịch sử một thời

Cổ kim hưng thịnh cõi đời có đa”.

Đình, Chùa làng ta to đẹp uy linh dường ấy!

Năm tháng dần trôi chiến tranh, khốc liệt, làng vẫn còn nâng niu lưu giữ được bảy đạo sắc phong : Nhị vị Thưởng Đẳng phúc thuận tấm phong từ các đời Vua Triều Nguyễn . Các Vua :  Vua Tự Đức, Vua Thành Thái, Vua Khải Định, Vua Duy Tân.

Cho đến tận bây giờ, mà dấu son của đồng triện vẫn tươi thắm chưa phai.

Lịch sử theo năm tháng dần trôi, cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công. Dân làng ta đã góp phần cùng với cả nước viết nên trang sử chói lọi.

Tháng 12 năm 1946 kẻ thù xâm lược quay lại, toan cướp nước ta một lần nữa.

Dân làng ta lại cùng cả nước bước vào thời kỳ kháng chiến Chín Năm. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ Tịch Hồ Chí Minh kêu gọi.

” Chung ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Biết bao người con dân của làng ta khi ấy đã : Tòng quân, tham gia dân quân du kích, vào công binh xưởng, đi dân công hỏa tuyền…

Đóng góp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến Thần Thánh chung của dân tộc, mà đỉnh cao là hiệu lệnh Tiêu Thổ Kháng Chiến.

Dân làng ta đã dâng hiến chuông thiêng của Đình để đúc vũ khí, và cột đình, mái đình được dùng làm hầm che chở cho hoạt động của các cán bộ dân quân du kích, và chẻ chở cho con dân trong làng, làng ta trở thành một pháo đài kiên cố cùng cả nước đánh giặc.

Trong sâu thẳm tâm linh dân làng ta hẳn cũng tin rằng, chắc chắn đã được ” Ân phù, dương trợ”. Để sản xuất và chiến đấu ngoan cường góp phần cùng cả nước làm nên chiến thắng. Kháng chiến Chín Năm thắng lợi, hòa bình lập lại trên miền bắc, cùng cả nước hàn gắn viết thương chiến tranh. Cũng đồng thời dốc sức với cả nước cho tiền tuyến lớn Miền Nam ruột thịt.

Lớp lớp những người con ưu tú của làng, lại lên đường làm nghĩa vụ trực tiếp thiêng liêng : Giả Phóng Miền Nam, Bảo Bệ Miền Bắc.

Lúc ấy sự đóng góp của làng ta ” Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Miền nam hoàn toàn giải phóng , giang sơn thu về một mối, làng ta dâng hiến cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

BA MƯƠI SÁU NGƯỜI CON ƯU TÚ, HỌ LÀ NHỮNG ANH HÙNG LIỆT SĨ VÔ DANH, ĐỐI VỚI TOÀN DÂN TỘC.

Còn đối vời làng ta , họ là những tấm gương cao đẹp, nhất là những anh hùng liệt sĩ vinh danh mà cùng với cả nước, dân làng ta mãi mãi ghi ơn.

Nhiều người con của làng đã trở thành những cán bộ, trung, cao cấp của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, bách chiến, bách thắng.

Và những người con đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong lực lượng vũ trang , nay đã đều hội tụ vào lực lượng cựu chiến binh. Tất cả, tất cả những người con yêu dấu ấy của làng đều là những tấm gương mẫu mực của Đức Dũng Cảm, Huy Sinh Quên Mình Vì Nước.

Nay đã và đang là lực lượng tin cậy của cấp ủy đảng, chính quyền của các đoàn thể và nhân dân.

Gương mẫu đi đầu trong cuộc sống lao động sản xuất hăng xay, đi đầu trong mọi lĩnh vực đổi mới và phát triển toàn diện, xây dựng làng xóm mạnh giàu.

Một lòng vững tin theo đảng, vững bước đi theo đường lối đổi mới tư duy , trong bảo vệ và xây dựng đất nước do đảng chỉ ra. sự phát triển của làng ta đang từng ngày từng giờ ” Như đang hồng da thắm thịt”, Không chỉ không còn mái dạ, vách xiêu, mà những ngôi nhà kiên cố, cao tầng đã và đang liên tiếp mọc lên , đẹp tựa trong mơ, đường dọc, ngõ ngang thênh thang cứng hóa.

Cuộc sống ấm no đã đến với mọi người, mọi nhà, lớp lớp cháu con học hành chăm chỉ, siêng năng tiến bộ, vì thế mà làng ta đã có vinh dự được nhận danh hiệu : Cao Quý Làng Văn Hóa.

Với niềm tin ở tín ngưỡng truyền thống , trong nét đẹp bản sắc văn hóa của dân tộc : Quần thể khu tâm linh Chùa, Đình , Phủ cần phải được tôn tạo.

Đó là ước nguyện, là mong mỏi thiết tha của mọi người dân suốt mấy năm qua, dẫu vẫn còn khó khăn nhiều lắm, nhưng thuận theo Ý Đảng, Lòng Dân.

“Nên vạn lần dân liệu vẫn xong”.

Cùng ý nguyện thiết tha, cùng ý trí ” Người giàu một bó, người khó một nén”. Người tại quê và người ở xa quê, đều thành tâm dốc sức đồng lòng, cả già, trẻ, gái, trai nên vui thế hôm nay công việc tôn tạo cơ bản, hoàn thành, niềm vui như nở rộ. Trong anh mắt nụ cười và trên gương mặt hân hoan ngời lên rạng rỡ của hết thảy mọi người.

Làng ta mở hội mừng lễ khánh thành – Giờ này những cựu chiến binh những người lính năm xưa, những người con yêu của làng đang thay mặt cộng đồng trang nghiêm, và kính cẩn ” DÂNG NÉN TÂM HƯƠNG, MỞ ĐẦU CHO LỄ HỘI KHÁNH THÀNH”.

Ghi chú : Tư Liệu – Khánh Chiến

Dỡ Đình Làng để thực hiện lệnh tiêu thổ kháng chiến : Đầu năm 1951

Cột đình, mái đình, làm hầm, che chở cho hoạt động của các cán bộ và nhân dân trong chiến đấu.

Có tất cả 5 Hầm.

Hầm 1 : Từ nhà cụ đội năm, sang nhà cụ Cai Hốn, sang nhà cụ Lý Tùng, sang nhà ông Bảo Tè.

Hầm 2 : Từ nhà cụ Thộn, sang nhà ông Tuế, sang nhà thờ họ ( ông Vá – Xuyến) sang nhà ông Đáp, cửa ra ao ông Đáp, ra Đồng Bờ Đông

Hầm 3 : Vườn nhà cụ Lý Lề ( bố ông Đễ, ông Thuận ) qua ao ra Đồng Bờ Đông

Hầm 4 : Vườn nhà cụ Đội Vân ( ông Nhàn đang ở ) sang nhà ông thuế ( nhà ông Quang).

Hầm 5 : Vườn nhà cụ Tiều ( Sáo ) Đất nhà ông Tần hiện nay đang ở?

Tư Liệu lịch sử đảng bộ xã Yên Phương giải phóng bốt Quang Điểm 11.6.1950 lúc đó làng ta còn 90 ao lớn cổ.

Tư Liệu – Trích Gia Phả ( Họ Phạm Hữu – Do ông Phạm Mạnh Đàm cung cấp).

Tổng Phú Khê- Huyện Ý Yên- Tỉnh Nam Định

Trước là Nam Sơn Hạ Sứ, nay là Bậc Kỳ Sứ, huyện Ý Yên thời trước và bây giờ thuộc tỉnh Nam Định.

Nhưng vào thời Vua Thành Thái năm thứ 3 về trước một ít lâu, thôn thuộc tỉnh Ninh Bình- Phủ Khánh An. Cho nên xem giấy mạ cũ có thấy một vài bản thuộc Phủ An Khánh là thế.

Xã Quang Điểm có hai thôn : Thái LãoPhù Cầu, trước gọi là Ba Điểm, Làng Trắm và Làng Nổi Thôn.

Làng có thờ phụng hai vị Dương Thần Thượng Đẳng, ở bên ngoài làng về đông bắc thời hướng nam, bệ thần, gọi là Đền Thượng, về phía tây nam lợp ngói hướng bắc gọi là Đền Hạ.

Về thời thượng cổ, thì Đền Thượng tọa đằng hướng tây, Đền Hạ tọa nam, hướng bắc.

Đền thời trung cổ thì Đền ThượngĐền Hạ đều quay hướng nam cả.

Đền Thời cận kim, Dân xem không được thịnh vượng đến năm 1892.

Tại sao lại không đổi hướng : Dân thôn lai lễ kêu ân dương, xin quay theo hướng Thượng Cổ : Nghĩa là Đền Thượng, xin quay hướng tây, Đền Hạ quay hướng bắc, thì chỉ được Đền Hạ: Hướng bắc phân kim tọa kỳ, hướng hội kiêm nhân tam phân.

Còn Đền Thượng không được Âm Dương nên vẫn để nguyên hướng nam.

Thời Thượng Cổ Làng không có đình mà là Đền Thờ lại ở bên ngoài Làng.

Đền Thượng Cổ ở nơi xa lắm, cây cối như rừng, thời bấy giờ, không ai dám đi lễ một mình, nên làng lập ra một nơi thời Trần ở giữa làng gọi là : ĐÌNH TRUNG . Làng ai có việc gì lễ bái, cầu nguyện ra đó cho tiện, còn văn chỉ thờ Đức Khổng Tử.

Có ruộng tư văn Năm sào (05 Sào). Thuế 148p Cân Cấy.

Thôn Thái Lão kiêm Thôn Phù Cầu xin chiếm Đình Quân Điều, có Cổ Đam Truyền Đạo. ( Con thứ phải đi học kinh cầu nguyện, con cả cúng tổ tiên ).

Quan trên xét phải theo hợp đồng : Của tiền nhà hai thôn không được chiếm Đình Quân Điều và nhân sách lễ không giúp được việc nên dân làng bỏ không theo đạo nữa.

Thời Thượng Cổ, dân làm Chùa lên thửa ruộng mạ cao, ở bên giò Ruối, chia có Đình, sau đó mới làm Đình. Rồi đưa Chùa lên ở sau Đình là Tiền Thần, Hậu Phật để việc tế lễ cho tiện. Từ khi làm được Đình rồi, đến kỳ việc làng rước về tế Hội Đồng, các kỳ không rước.

Ngày sóc, vọng ( mồng một và ngày rằm ) đều tế ở Đình Công Sở, tế ở Đình không tế ở Đình Trung nữa.

Sau đó Dân làng lập thêm Miếu Thờ Âm Vị sau Đền Hạ, Nhưng chưa có sắc phong.

Chú Thích : Gia Phả Họ Phạm Hữu , Do cụ Phạm Hửu Giảng ( Thân sinh ra cụ Quận Thuyết hay còn gọi là cụ Đỗ Thuyết). Lập cụ Giảng sinh ra sáu người con.

1, Cụ Quân Thuyết là con cả: Sinh năm 1883 mất năm 1962 ( Hưởng thọ 79 tuổi ).

2, Cụ Phạm Hữu Khải : Mất sớm

3, Cụ Phạm Hữu Làng : Con trai út…

Và ba bà con gái :

1, Bà Cháu : Con cháu nay đắng Cụ Nghĩa, Tuyết, Sơn.

2, Bà Điên : Con cháu nay là đắng Cụ Tắng, Cụ Thược ( Nháng ) Ông Linh.

3, Bà Bé lấy cụ Hiện : …. Con gái tên là Bé lấy ông Đỗ Đức Đổ…

Ông Phạm Mạnh Đàm là cháu gọi Cụ Quân Thuyết là ông nội…

Tư Liệu Sử Dụng :

1, Địa chí Nam Định ( Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2003 )

2, Sự tích Bến Vua ( Đại Tá Vũ Dung )

3, Văn hóa tâm linh Làng Trắm nhóm tác giả : Đinh Văn Thênh, Đỗ Đức Khang, Phạm Quốc Việt…

Tổng hợp : Đức Lộc

Bình luận facebook

0 0
Happy
Happy
0 %
Sad
Sad
0 %
Excited
Excited
100 %
Sleepy
Sleepy
0 %
Angry
Angry
0 %
Surprise
Surprise
0 %

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết mới